Bệnh chín mé do virus herpes

Chín mé là dạng nhiễm trùng ở bàn tay do virus herpes simplex (HSV) gây ra, ảnh hưởng tới một hoặc nhiều ngón tay, hay gặp nhất là ở đốt xa của ngón tay.

Bệnh chín mé do virus herpes gây ra
Bệnh chín mé do virus herpes gây ra

Đặc điểm dịch tễ

Virus herpes simplex gồm có hai loại là HSV-1 và HSV-2, trong đó nguyên nhân gây chín mé do HSV-1 chiếm 60%, do HSV-2 chiếm 40%. Chín mé do virus herpes được xem như là một bệnh da nghề nghiệp, những người chăm sóc sức khỏe có nguy cơ cao bị bệnh do tiếp xúc với các dịch tiết của người bệnh, đặc biệt là trong chuyên khoa răng hàm mặt. Virus từ các dịch tiết vùng miệng, từ các mụn nước trên da xâm nhập vào tay nhân viên y tế qua các vết nứt, nẻ, xây xước. Ngoài ra, trẻ em là đối tượng dễ bị chín mé do virus herpes, liên quan tới thói quen mút ngón tay của trẻ. Ở trẻ em, nhiễm herpes tiên phát thường gặp ở vùng miệng, môi, lưỡi, lợi. Khi trẻ mút tay, virus từ các vùng đó xâm nhập vào da tay. Ở người lớn, căn nguyên do HSV-2 có nguồn gốc từ nhiễm herpes sinh dục.

Triệu chứng lâm sàng bệnh chín mé

Chia sẻ tại Tin tức Y tế việt Nam – Trường Cao đẳng Y Dược Pasteur, bác sĩ chuyên khoa cho biết chín mé do herpes có thời gian ủ bệnh khoảng 2-20 ngày. Các triệu chứng toàn thân như sốt và mệt mỏi có thể xuất hiện như là biểu hiện đầu tiên của bệnh, nhưng ít gặp. Các dấu hiệu hay gặp hơn là cảm giác đau, rát bỏng, châm chích ở đốt ngón tay có nhiễm virus herpes. Sau đó, đốt ngón tay trở nên đỏ, phù nề, xuất hiện các đám mụn nước có đường kính 1-3 mm trên nền da đỏ, tồn tại trong 7-10 ngày. Các mụn nước có thể bị loét, vỡ ra, thường chứa dịch trong suốt, hoặc có màu đục hoặc có máu. Hạch vùng nách ít khi to. Sau 10-14 ngày, các triệu chứng cải thiện, thương tổn đóng vảy tiết và lành.

Sau đợt nhiễm trùng đầu tiên, virus herpes từ ngón tay xâm nhập vào đầu mút của các dây thần kinh cảm giác ở da, di chuyển vào các hạch thần kinh ngoại vi và tế bào Schwann, sống tiềm ẩn ở đó trong thời gian rất lâu. Khi gặp điều kiện thuận lợi như suy giảm miễn dịch, sang chấn tâm lý, tiếp xúc với tia xạ, tia cực tím, laser, virus tái hoạt động, di chuyển ra da, tạo nên hình ảnh lâm sàng của nhiễm herpes thứ phát. Thông thường, các triệu chứng lâm sàng của nhiễm herpes tiên phát rầm rộ nhất, còn nhiễm thứ phát thì nhẹ hơn với thời gian ngắn hơn.

Trẻ em dễ mắc bệnh chín mé do hay mút tay
Trẻ em dễ mắc bệnh chín mé do hay mút tay

Chẩn đoán bệnh chín mé

Chẩn đoán chín mé do herpes chủ yếu dựa vào các đặc điểm lâm sàng như đã mô tả ở trên, tiền sử nghi ngờ phơi nhiễm hoặc ở trẻ em có thói quen mút ngón tay. Ngoài ra có thể thực hiện các xét nghiệm chứng minh sự có mặt của virus herpes như chẩn đoán tế bào học, phản ứng khuếch đại chuỗi polymerase (PCR) với HSV-1 và HSV-2, nuôi cấy virus. Tại Bệnh viện Da liễu Trung ương, chúng tôi thực hiện hai xét nghiệm đầu tiên. Đặc biệt, chẩn đoán tế bào học là một xét nghiệm đơn giản, dễ thực hiện, cho kết quả nhanh, độ nhạy cao. Bệnh phẩm được lấy từ nền của mụn nước, dàn lên lam kính, sau đó thực hiện các bước của kỹ thuật nhuộm Giemsa. Khi quan sát dưới kính hiển vi điện tử, có thể thấy các đặc điểm của tế bào viêm, tế bào biểu mô.

Điều trị và phòng bệnh chín mé

Với các nhân viên y tế thì cần đi găng tay chăm sóc người bệnh, khi tiếp xúc với dịch tiết của người bệnh, tránh thói quen mút tay.

– Nhiễm trùng tiên phát:

  • Người lớn: acyclovir 200 mg uống 5 lần/ngày; acyclovir 400 mg uống 3 lần/ngày; valacyclovir 1000 mg uống 2 lần/ngày; famciclovir 250 mg uống 03 lần/ngày.
  • Trẻ em: acyclovir 15 mg/kg uống 5 lần/ngày.

Thời gian điều trị : 5-7 ngày.

– Nhiễm trùng tái phát

  • Ở người lớn: có thể dùng thuốc bôi acyclovir, cidofovir; uống acyclovir 400 mg 5 lần/ngày trong 4-5 ngày; famciclovir 500 mg 2-3 lần/ngày trong 01 ngày; valacyclovir 2000 mg 2 lần/ngày trong 01 ngày.
  • Ở trẻ em: acyclovir 20-30 mg/kg uống 5 lần/ngày trong 4-5 ngày.

Dự phòng tái phát: người lớn uống acyclovir 400 mg 2 lần/ngày.

Nguồn: yduochaiduong.com